Hiển thị các bài đăng có nhãn Chăm sóc bé. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chăm sóc bé. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

6 Cách chữa ngạt mũi cho bé mùa đông các mẹ cần biết

Thời tiết lạnh dễ khiến trẻ nhỏ sổ mũi, các mẹ chớ có lo lắng quá mà vội cho con nhập viện, hoặc dùng kháng sinh tới tấp khiến cho cả mẹ và em bé rơi vào vòng luẩn quẩn lo lắng sợ hãi mà không hết bệnh.

Theo các bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng, Bệnh viện Nhi đồng 2, sổ mũi làm cho trẻ khó chịu do làm giảm lượng không khí lưu thông trong mũi, bệnh nhân không tự tin khi giao tiếp vì cứ phải xì mũi hoặc khịt khạc thường xuyên.


Hiện tượng chảy nước mũi có thể tự hết nhưng cũng có thể để lại những biến chứng do không điều trị kịp thời như viêm xoang, viêm tắc vòi tai, viêm họng, viêm thanh khí phế quản...

Dưới đây là một số kinh nghiệm (Phụ nữ đẹp) giúp đối phó với triệu chứng thông thường này tại nhà mà không cần dùng đến thuốc kháng sinh.

1. Nước muối. 


Nước muối là một phương thuốc phổ biến lại an toàn chữa nghẹt mũi cho bé. Bạn có thể mua thuốc nhỏ mũi dạng muối sinh lý hay dạng nước biển (dùng được cho các bé) hoặc bạn tự chuẩn bị nước muối nhỏ mũi cho con ngay tại nhà. Để làm nước muối nhỏ mũi cho con rất đơn giản, bạn chỉ cần pha một cốc nước ấm với một nửa thìa cafe muối ăn là được. Khi nhỏ giọt dung dịch nước muối vào lỗ mũi của bé cần lưu ý, chỉ một giọt cho mỗi lỗ mũi là đủ.

2. Xông hơi.


Hơi nước trong phòng tắm chẳng hạn là một trong những biện pháp tốt để khắc phục ngạt mũi cho bé. Tiếp xúc với hơi nước có thể giúp làm loãng các đờm được hình thành trong mũi bé. Điều này cũng giúp mũi được thông thoáng và khiến bé dễ thở.

3. Sử dụng máy tạo hơi ẩm.


Tại sao cần dùng máy tạo hơi ẩm? Không khí ẩm là một loại thuốc thông mũi tự nhiên tuyệt vời, làm dịu đi sự khô hanh của những ngày đông, giúp bé giảm khô mũi, giảm những cơn ho kho khè. Chạy máy hơi nước trong phòng qua đêm giúp hỗ trợ hiệu quả cho quá trình hô hấp của trẻ.

4. Bổ sung thêm nước cho trẻ.


Việc tăng cường lượng chất lỏng với các sản phẩm sữa mẹ , sữa bột, sữa bò tươi, nước và súp, giúp bổ sung lượng nước cần thiết để có đề kháng tốt với các loại vi trùng cũng như chống nhiễm trùng.

5. Sử dụng hơi tinh dầu bạc hà.


Hít hà mùi hương tinh dầu bạc hà có tác dụng kích thích các mạch máu dãn ra, “mở lối” cho không khí đi vào, giúp trẻ hít thở dễ dàng trong những ngày ngạt mũi. Mẹ có thể đốt tinh dầu bạc hà trong phòng để tạo hương thơm nhẹ nhàng. Nhưng mẹ cần lưu ý quan sát trẻ xem liệu mùi hương như vậy có quá mạnh đối với trẻ hay không và nên ngưng sử dụng khi trẻ có dấu hiệu thở khò khè hơn.

6. Kê gối cao và day cánh mũi cho trẻ khi ngủ.


Đây là cách xưa nay các mẹ hay dùng, cũng rất hiệu quả! Bởi nếu để gối của trẻ thấp như ngày thường, bé sẽ gặp khó khăn hơn khi thở. Đồng thời, khi bé ngủ, mẹ nên dùng 2 mu bàn tay day day cánh mũi cho bé, bảo đảm bé sẽ dễ chịu hơn rất nhiều.

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

Hướng dẫn 3 cách chữa tiêu đờm bằng hành tây

Hành tây tính nóng, khi dùng trong có tính chất kích thích chung sát khuẩn và chống nhiễm khuẩn, gây tiết, trị ho, làm dễ tiêu hoá, trị giun. Được dùng ngoài để làm dịu và tan sưng, sát khuẩn, chống đau, xua muỗi. (Trích: Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh)


Hành tây (dùng cho bé cơ địa lạnh sẽ tốt hơn).

Cách 1:

Hành tây bóc vỏ, thái lát vừa đủ nửa bát cơm, thêm 20g đường phèn đập dập trộn lẫn, sau đó đem hấp cách thủy 30 phút. Để hành nguội (vẫn còn hơi âm ấm), chắt lấy nước cho bé uống. Nếu uống không hết thì trong ngày hâm lại cho nóng và uống tiếp. Bài này dành cho bé dưới 1 tuổi. Bé sẽ tiêu đờm bằng cách trớ ra hoặc nuốt xuống dạ dày.

Cách 2:

Hành tây bóc vỏ, thái lát vừa đủ nửa bát cơm sau đó đem hấp cách thủy 30 phút. Để hành nguội bớt và trộn vào 4 thìa cafe mật ong (vẫn còn hơi âm ấm), chắt lấy nước cho bé uống, nếu ăn được cả bã là tốt nhất. Nếu uống không hết thì trong ngày hâm lại cho nóng và uống tiếp. Bài này dành cho bé trên 1 tuổi. Bé sẽ tiêu đờm bằng cách trớ, ho ra hoặc nuốt xuống dạ dày.


Cách 3:

Bước 1:
Nấu một nồi cháo trắng.

Bước 2: 
Hành tây nửa củ, lá tía tô 10 lá (to), tất cả cho vào cối xay nhuyễn.

Bươc 3:
Khi cháo chín thì cho hỗn hợp hành tây và tía tô vào cháo khuấy trong 5 phút cho hành chín và hết hăng.

Bước 4: 
Để cháo nguội bớt và cho trẻ ăn như bình thường, cách này làm cho trẻ biết ăn cháo trở lên.
Món hành tây thường áp dụng một lần đã cho kết quả nhưng phải dùng 2, 3 ngày cho sạch hẳn đờm


Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

8 phương pháp trị sốt hữu hiệu cho trẻ em

Những lúc bé bị sốt, biện pháp mà bạn nghĩ ra ngay lúc đó chắc chắn sẽ là đưa bé đến gặp bác sĩ. Nhưng biên cạnh đó, bạn có thể áp dụng những mẹo đơn giản sau đây để hạ sốt cho bé mà lại vô cũng tiết kiệm.

1. Dùng tất ướt cuốn quanh mắc cá chân


Đây là một cách đơn giản mà các bà mẹ có thể giúp bé hạ nhiệt của cơ thể. Chọn 2 chiếc tất cotton đủ dài để quấn quanh mắt cá chân, nhúng vào nước lạnh rồi vắt sạch. Từ từ quấn tất quanh cổ và bàn chân bé và lặp lại mỗi khi tất hết lạnh. Em bé ban đầu có thể cảm thấy khó chịu nhưng ngay sau đó, chúng sẽ nhận thấy tác dụng giảm nhiệt cực tốt mà phương pháp này mang lại.


2. Sử dụng dầu olive

Ngoài những công dụng làm đẹp thì dầu olive còn có công dụng tuyệt vời khi giúp trẻ hạ cơn sốt, tránh những tình huống nghiêm trọng hơn. Đối với trẻ dưới 2 tuổi, xoa bóp toàn bộ cơ thế với dầu oliu nguyên chất trước khi đi ngủ và sau đó bọc con vào một tấm chăn hoặc bộ quần áo vải cotton mềm. Sáng hôm sau sẽ tắm cho con để rửa sạch lớp dầu oliu trên người.


3. Sử dụng khoai tây

Nguyên liệu quen thuộc trong nhà bếp này lại có thể trị sốt cho bé, thật bất ngờ phải không nào?  Bạn thái khoai tây thành các lát nhỏ, ngâm vào giấm trong khoảng 10 phút. Sau đó đặt các lát khoai tây lên trán của con và đặt một chiếc khăn lên trên. Sau 20 phút, bạn sẽ thấy kết quả.


4. Cho bé ăn thường xuyên hơn

Mặc dù khi bị sốt, bé sẽ biếng ăn hay thậm chí là không ăn, nhưng bạn cần phải cho bé ăn thành nhiều bữa nhỏ, không được bỏ bữa.Trẻ đang sốt thực sự cần nhiều nước hơn bình thường. Mất nước rất nguy hiểm trong trường hợp này. Nếu trẻ bú mẹ, bạn hãy để con tự điều tiết lượng sữa của mình nhưng cho con bú nhiều lần hơn. Với trẻ bú sữa ngoài, cho con ăn khoảng một nửa so với bình thường nhưng sẽ ăn làm 2 lần, mẹ lưu ý pha sữa với nước nguội hơn bình thường để giúp hạ cơn sốt tốt hơn.

5. Quấn cho bé khăn mát

Chỉ cần một chiếc khăn hoặc chăn mỏng, gấp làm đôi để tạo thành hình tam giác. Đặt em bé nằm vào phía bên trái của khăn, sau đó đặt tay trái của bé phía dưới khăn và gấp phần thừa phía bên phải khăn xuống phía dưới người con. Tiếp theo, nhét cánh tay phải của bé dưới hai lớp mềm, và gấp phần bên trái của khăn xuống dưới 2 tay của bé.

Sao đó, buộc 2 phần thừa bên trái và phải vào phía trước người con, cuối cùng đem góc còn lại của khăn quấn vào chỗ nút buộc phía trước bé.Với cách đơn giản này cũng có thể giúp bé hạ sốt nhanh chóng đấy nhé.


6. Sử dụng dưa leo

Hãy chọn một quả dưa chuột non (dưa chuột non có ít hạt). Sau đó, dùng một con dao gọt dưa chuột thành hình dạng một ngón tay dày. Nhỏ ở phần đầu và to dần về đuôi. Cố gắng bỏ hết hạt hoặc chọn quả có ít hạt để khi ngậm bé không bị hóc. Giữ phần chưa nạo vỏ của dưa chuột như là thân bình sữa, đầu kia nạo vỏ sạch sẽ rồi đưa em bé ngậm. Hiệu quả làm mát của dưa chuột sẽ xuất hiện ngay lập tức.


7. Massage bằng chất nhờn của lô hội

Mẹ nên thoa và mát xa nhẹ trên cơ thể trẻ đang sốt bằng chất nhờn của cây lô hội, cách thức này sẽ giúp giảm sốt cho con. Bởi vì chất nhờn của cây lô hội rất mại và sẽ tạo cảm giác dễ chịu cho bé. Lô hội có thể được sử dụng để điều trị bỏng, ngứa và các vết thương nhỏ.


8. Massage bằng nước

Cho nhiệt độ trong  phòng sao cho có độ ấm thích hợp, các bà mẹ chuẩn bị khăn bông và một bát nước ấm. Nếu muốn,  có thể cho thêm một túi trà hoa cúc vào bát nước. Cởi bỏ quần áo của con và đặt bé vào khăn tắm.Nhúng tay mẹ vào trong bát nước, rồi nhẹ nhàng đặt tay lên ngực bé. Xòe các ngón tay và xoa bóp dần trên toàn bộ cơ thể bé.

Vuốt dọc tay, chân bé, từ ngón chân đến hông, và từ đầu ngón tay đến vai; thực hiện khoảng 3 đến 4 lần. Tiếp tục dùng tay nhúng nước trong suốt quá trình mát xa, xoa bóp nhẹ nhàng quanh bả vai sau đó trượt xuống ngực. Sự kết hợp nhẹ nhàng của nước ấm và tay mẹ sẽ làm dịu cơ thể đang nóng của bé.


Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

5 Câu hỏi các mẹ quan tâm nhất khi tiêm phòng cho trẻ

Tiêm phòng có thể ngăn ngừa con bạn không bị những bệnh nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài. 

Sợ vì lịch tiêm phòng của con dày đặc Chớ "chểnh mảng" việc tiêm phòng cho con khỏe mạnh 14 vấn đề liên quan tiêm phòng vắcxin ở trẻ


Câu hỏi 1: Nếu con tôi bị sốt thì có nên đi tiêm phòng?

Khi trẻ bị sốt, tiêm chủng cần phải được hoãn lại. Tuy nhiên, nếu con bạn bị cảm lạnh thông thường và nhiệt độ của trẻ vẫn bình thường thì vẫn khá an toàn để tiêm vắc-xin.


Câu hỏi 2: Tác dụng phụ của việc tiêm chủng là gì?

Không có loại vắc-xin nào lại không có các phản ứng phụ. Tuy nhiên bạn không nên quá để ý tới những tác dụng phụ của vắc xin mà không cho con bạn đi tiêm chủng. Thay vào đó hãy tiêm chủng cho con để con bạn được bảo vệ trước các bệnh truyền nhiễm.

Bạn cũng nên biết rằng nguy cơ biến chứng nghiêm trọng từ các loại vắc-xin luôn luôn thấp hơn nhiều so với nguy cơ nếu con bạn bị ngã bệnh với một trong những bệnh nghiêm trọng do không được tiêm phòng ngăn ngừa.

- Dị ứng với vắc-xin (hiếm gặp)

- Các loại vắc-xin phòng chống bệnh bạch hầu, uốn ván, ho gà, bại liệt... có thể gây ra đỏ và sưng tại chỗ tiêm. Điều này sẽ biến mất trong vòng vài ngày. Trẻ có thể bị sốt nhẹ từ lúc tiêm vắc xin cho đến 10 ngày sau đó.


- Những tác dụng phụ của chủng ngừa phế cầu khuẩn thường phổ biến nhất với những phản ứng tại chỗ tiêm (như đau, tấy đỏ hoặc sưng), sốt và khó chịu. Con bạn cũng có thể buồn ngủ.

- Thuốc chủng ngừa MMR có thể gây ra một phản ứng ngắn mà có thể bắt đầu từ vài ngày đến 3 tuần sau khi tiêm chủng ngừa. Con bạn có thể gặp các triệu chứng nhẹ khi tiêm phòng vắc xin như cảm lạnh, da phản ứng, sốt hoặc tuyến nước bọt bị sưng.

Câu hỏi 3: Các vắc-xin viêm màng não C có thể có những tác động sau đây:

Trẻ em: Có thể bị sưng và tấy đỏ ở nơi tiêm.

Trẻ em trên 12 tháng: Sưng và tấy đỏ nơi tiêm. Cứ 4 trẻ tiêm phòng thì có 1 trẻ có thể có thể bị khó ngủ. Khoảng 1 trong 20 trẻ có thể bị sốt nhẹ.

Trẻ em mẫu giáo: Khoảng 1 trong 20 trẻ có thể bị sưng tại chỗ khi tiêm. Khoảng 1 trong 50 trẻ có thể bị sốt nhẹ trong vòng một vài ngày tiêm phòng.

Trẻ em và thanh thiếu niên: Khoảng 1 trong 4 trẻ có thể bị sưng và tấy đỏ tại chỗ tiêm. Khoảng 1 trong 50 trẻ có thể bị sốt nhẹ. Khoảng 1 trong 100 trẻ có thể bị một cánh tay rất đau khi tiêm và hiện tượng này có thể kéo một ngày hoặc lâu hơn.


Câu hỏi 4: Những tác dụng phụ phổ biến nhất khi tiêm chủng ngừa HPV là đau, tấy đỏ và sưng tại chỗ tiêm?

Các tác dụng phụ thường gặp có thể bao gồm:

  • Đau đầu
  • Đau bắp thịt hoặc khớp
  • Tấy đỏ và sưng tại chỗ tiêm
  • Sốt
  • Chóng mặt
  • Kích thích da, chẳng hạn như ngứa và phát ban
  • Rối loạn ruột, chẳng hạn như buồn nôn và ói mửa, tiêu chảy, đau bụng.

Câu hỏi 5: Trẻ sẽ được các mũi tiêm chủng bảo vệ bệnh tật bao lâu sau khi tiêm?


Sau khi hoàn thành các mũi tiêm chủng, con bạn sẽ được bảo vệ trong thời gian sau  tiêm là:

- Bạch hầu, uốn ván: tối thiểu là 10 năm, hoặc có thể lâu hơn.

- Ho gà: ít nhất là 3 năm. Tuy nhiên, điều này vẫn còn đang được nghiên cứu.

- Viêm màng não: bảo vệ dài hạn.

- Bại liệt: bảo vệ suốt đời.

- Bệnh sởi, quai bị và rubella (sởi Đức): bảo vệ lâu dài hoặc có thể suốt đời.

- Viêm màng não C: bảo vệ lâu dài và có thể suốt đời.

- Ung thư cổ tử cung: nghiên cứu cho thấy rằng vắc xin ung thư cổ tư cung có thể bảo vệ ít nhất năm năm.

Làm thế nào để con tiêm mũi phòng về không bị sốt ?

Chào các mẹ, nhận được sự quan tâm của rất nhiều mẹ thắc mắc "Làm thế nào để con tiêm mũi phòng về không bị sốt ? "


(Phunudep) đã nghiên cứu và tham khảo các ý kiến của chuyên gia để viết lên bài viết này, và cũng muốn để các mẹ chia sẻ mấy kinh nghiệm hay khi cho con đi tiêm phòng, vì (Phunudep) thấy việc tiêm phòng cho con là không thể tránh được. Tiêm đến tận lúc lớn rồi vẫn tiêm.

(Phu nu dep) thấy nhiều mẹ than rằng con đi tiêm về bị sốt thường bỏ ăn, quấy khóc rồi sút cân, nên mún qua bài viết này có mẹ nào có cao kiến gì trong vấn đề chăm sóc con lúc tiêm phòng thì chia sẻ để các mẹ khác học hỏi nhé!

Được chuyên gia chia sẻ có 1 kinh nghiệm khá hay được từ đời bà ngoại truyền cho, áp dụng với bé từ lúc sinh đến giờ hơn 4 tháng rồi, tiêm mấy mũi rồi mà trộm vía con không bị sốt tẹo nào,

Đó là: Vào trước hôm đi tiêm thì các mẹ nhớ mua rau tía tô về, rửa sạch, ăn khoảng chục ngọn, nói chung ăn càng nhiều càng tốt, rồi cho con ti, ti càng nhiều càng tốt. Sau khi tiêm xong cũng cần cho con ti nhiều để tránh mất nước. Chất kháng sinh tự nhiên có trong tía tô sẽ giúp con không bị sốt tẹo nào.

Con đối với những bé không ti mẹ thì giã tía tô sống rồi hoà loãng 1 chút và cho bé uống cũng tốt.


Dưới đây là những kinh nghiệm cm gửi tới (Phunudep) chia sẻ để các bạn tham khảo luôn: Có mẹ nào có cách khác hay hơn thì chia sẻ dưới comment này luôn nhé!

Mẹ bé Cu Bin: Cu Bin nhà mình thì áp dụng kinh nghiệm đơn giản trườm nước mát vào chỗ tiêm ngay khi tiêm xong rất hiệu quả. Bé được làm mát ngay khi tiêm nên ngăn chặn sưng tấy chỗ mũi tiêm, tránh bị sốt rất hiệu quả.

Mẹ bé mèo:  Chườm khăn sữa mát vào quanh vết tiêm của con, con có quấy khóc một lúc nhưng không bị sốt,

Mẹ bé Jun: Có 1 cách nữa là sau khi tiêm về, các mẹ dán 1 miếng dán hạ sốt (bán ở các tiệm thuốc tây) vào chỗ tiêm, bé sẽ không đau mà giảm được sốt, không quấy khóc

Mẹ bé Linh: Bé nhà e sinh 3.8. Hum nay e cũng vừa cho bé nhà e đi tiêm về. Em cũng đg áp dụng phương pháp trườm khăn mát lên chỗ tiêm cho bé mà không bít có đc không? Lần truớc chích ngừa mũi phòng lao thì trộm vía con k bị sốt khi áp dụng cách ăn tí tô như (Phunudep) chia sẻ

NB: 3,1kg
27d: 4,4kg (bị sốt nên sút mất 300g)
2m9d: 6,5kg
2m22d: 7,5kg, 60cm.


Mẹ bé Tun: Cu nhà mình tiêm về chỉ hơi sốt thôi không quấy mẹ đâu. mình làm thế này nè: lúc con tiêm xong mình lấy bông chứa cồn mà các cô y tá để nơi mũi tiêm ý , mình day day chỗ tiêm đến khi khô thì thôi. vê đến nhà minh dùng bình sữa con uống đổ nước nóng vừa vào. dùng khăn màn cuốn ở ngoài bình rồi chườm cho bé.

Các mẹ chú ý kiểm tra độ nóng khẻo nóng quá.làm thế này bé sẽ không bị sưng chỗ tiêm và cũng không đau đâu!


Mẹ bé Jerry: Mình mới biết một cách như thế này. Sau khi tiêm cho con thì lấy lòng trắng trứng gà (gà ta nhé, gà công nghiệp vừa tanh mà không mát) bôi lên chỗ tiêm, cứ để khô không lau đi, thỉnh thoảng bôi lại. Tháng trước bé nhà mình tiêm mũi 5 trong 1 về thấy tấy đỏ và khóc, mình được bà hàng xóm mách như thế, mình bôi thấy hiệu nghiệm lắm.

Chúc các mẹ vui vẻ khi nhìn thấy bé nhà mình không còn bị sốt qua những đợt tiêm phòng nữa nhé ! 

Nguồn: http://evaface.blogspot.com/2014/09/lam-the-nao-de-con-tiem-mui-phong-ve-khong-bi-sot.html

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

So sánh lợi ích giữa sữa mẹ và sữa công thức

Nghiên cứu chứng minh, có khoảng 100 thành phần khác ở sữa mẹ mà sữa công thức không có. Do vậy, bạn nên nuôi con bằng sữa mẹ để bé phát triển tối ưu. 

Dưới đây là những tiêu chí so sánh giúp bạn hiểu rõ hơn.

1. Chất đề kháng


Trẻ em khi mới sinh ra còn rất non nớt, chưa đủ sức đề kháng với vi khuẩn bên ngoài, vì vậy, đầu tiên trẻ cần được tăng cường thêm sức đề kháng.Sữa mẹ là nguồn cung cấp các chất giúp cơ thể bé tăng cường sức đề kháng, chống lại virus (vi khuẩn) gây bệnh.

Các chất này không được tìm thấy trong sữa hộp. Ngay cả những loại sữa công thức được quảng cáo là có chứa chất đề kháng cho cơ thể bé thì chúng cũng không chất lượng bằng chất đề kháng từ sữa mẹ.


2. Lượng nước

Lượng nước có trong sữa mẹ luôn đáp ứng đủ cho nhu cầu và sự phát triển của bé.Lượng nước khi bé sử dụng sữa công thức phụ thuộc vào chỉ dẫn cách pha chế của từng nhãn sữa riêng biệt.

3. Chất béo

Sữa mẹ chứa nhiều chất béo hơn sữa công thức. Bé cũng dễ hấp thu nguồn chất béo này.Thành phần chất béo có trong sữa công thức khác với sữa mẹ nên bé khó hấp thu hơn.


4. Protein

Lượng protein có trong sữa mẹ giúp bé dễ hấp thu lại hoàn toàn phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển của bé. Lượng protein trong sữa công thức có thể nhiều gấp đôi lượng protein có trong sữa mẹ, nhưng bé không hấp thụ hết hoặc khó hấp thụ lượng protein này.

5. Vitamin và khoáng chất

Nếu người mẹ chú ý ăn uống và đa dạng thì bé sẽ hấp thu được lượng vitamin và khoáng chất cần thiết qua sữa mẹ, ít nhất cho đến khi bé được khoảng 6 tháng tuổi.Tùy từng nhãn sữa và lượng sữa mà bé tiêu thụ mà số lượng vitamin và khoáng chất có trong sữa côn thức nhiều hoặc ít hơn so với sữa mẹ.


6. Cabonhydrate

Sữa mẹ chứa lượng carbohydrate cao hơn sữa hộp. Đây được coi là nguồn năng lượng chính trong quá trình phát triển của bé. Lượng carbohydrate có trong sữa công thức (hoặc sữa bò) thường ít hơn trong sữa mẹ.


7. Mùi vị

Xét về phương diện này, thì mùi vị của sữa mẹ luôn thích hợp với bé hơn vì nó không quá gắt. Tùy thuộc vào thực đơn dinh dưỡng của người mẹ mà sữa mẹ có thể bị thay đổi mùi vị. Do đó, người mẹ nên lưu ý chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Lưu ý cần biết khi sử dụng điều hòa cho bé

Ngày nay, điều hào dường như trở thành"công cụ" hỗ trợ đắc lực cho các bà mẹ những ngày hơi oi nóng. Nhưng , bạn đã biết hết lưu ý khi cho bé sử dụng điều hòa chưa? Cùng xem nhé!

1. Nhiệt độ điều hòa thích hợp


Điều hòa có tác dụng làm mát không khí, tạo sự thoải mái cho cả mẹ và bé.Tuy nhiên, thân nhiệt của trẻ em không giống người lớn, chính vì vậy nhiệt độ phòng phù hợp cho người lớn chưa chắc đã khiến trẻ cảm thấy thoải mái. Trung tâm điều nhiệt của trẻ chưa hoàn thiện, hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm chưa hoàn thiện, nhất là trẻ dưới 3 tuổi.Vậy nhưng nếu để lạnh quá cũng rất dễ khiến con bị ho, cảm.

Thông thường trong các phòng nuôi dưỡng sơ sinh ở bệnh viện luôn có mức nhiệt độ từ 27-29 độ C.Một mẹo nhỏ nữa cho mẹ, khi trẻ nằm điều hòa, nên để mức nhiệt độ theo quy tắc: Khi người lớn đi vào phòng trẻ sơ sinh phải thấy hơi nóng và toát mồ hôi thì là vừa, nếu người lớn cảm thấy mát thì trẻ sơ sinh sẽ lạnh.


2. Cho bé uống nhiều nước

Đây chính là cách bù đắp lượng nước mất đi tốt nhất cho trẻ.ho dù đó là nước lọc, sữa mẹ, sữa công thức, nước trái cây hay canh súp…thì đều có công dụng bù nước cho cơ thể trẻNgoài ra mẹ còn cần lưu ý thêm một nguyên tắc nhỏ trong chế độ ăn uống của trẻ, đó là nên ăn nhiều rau quả, trái cây hơn một chút.

3. Không bật điều hòa 24/24

Bật điều hòa cả ngày sẽ khiến không khí tù đọng, không tốt cho sức khỏe và hệ hô hấp của trẻ. Mỗi ngày, ít nhất mẹ phải 2 lần tắt điều hòa, mở hết các cửa, dùng quạt đuổi hết không khí tù đọng ra ngoài, đồng thời kết hợp đón ánh nắng vào phòng càng nhiều càng tốt.

4. Quy tắc 3 phút

Mẹ nên nhớ mỗi khi muốn cho con từ phòng điều hòa ra ngoài thì hãy mở cửa trước đó 3 phút, cho con đứng chơi gần đó để quen với luồng không khí nóng bên ngoài.Mặt khác, khi bé ở ngoài về, ra nhiều mồ hôi, mẹ cũng nên lau mồ hôi cho con và để con ngồi nghỉ ít nhất 3 phút ở nhiệt độ phòng bình thường, tránh cho bé vào ngay phòng điều hòa gió lạnh, nhiệt độ thấp đột ngột.


5. Không để diều hòa thẳng khu vực ngủ của bé

ệ hô hấp của trẻ nhỏ còn rất nhạy cảm. Nếu quạt gió của điều hòa thổi thẳng vào mặt, vào đầu thì với những bé có cơ địa yếu sẽ rất dễ mắc những bệnh về đường hô hấp như dị ứng đường hô hấp, viêm mũi, viêm phế quản, viêm phổi, đau họng. Những triệu chứng phổ biến của bé là ho, sốt, ngạt mũi... có thể xuất hiện sau khi nằm điều hòa trong thời gian lâu.

6. Thường xuyên vệ sinh

hòng bật điều hòa cần được thường xuyên lau dọn, nếu không những loại nấm mốc, mầm bệnh lưu trú sẽ trở thanh nguồn gốc phát sinh bệnh cho em bé.


7. Kỹ năng xử lý khi bé gặp các bệnh về điều hòa

Viêm họng: Nếu trẻ bị ho nhẹ, viêm họng mới chớm khi nằm điều hòa, mẹ có thể cho bé uống chanh đào mật ong, quất ngâm đường phèn, lê hấp đường hay cam nướng muối tinh…đều có tác dụng chữa bệnh.

Nghẹt mũi: không khí khô lạnh dẫn đến nghẹt mũi là khó chịu nhất cho trẻ nhỏ. Để giảm nghẹt mũi mẹ cần thường xuyên xịt, nhỏ nước muối sinh lý thường xuyên làm sạch đường hô hấp trên của bé.

Một phương pháp nữa, đó là xông hơi mũi cho bé bằng cảm xuyên hương theo hướng dẫn này. Chỉ cần lưu ý nhiệt độ nước không quá 50 độ và khoảng cách nước – mũi bé không nên quá gần để tránh bỏng.

Ngoài ra, mẹ có thể massage mũi con bằng cách lấy ngón cái và ngón trỏ nhẹ nhàng xoa bóp mũi bé từ trên xuống dưới, làm nhiều lần trong ngày cũng có thể giảm các triệu chứng nghẹt mũi.

Cảm lạnh, sốt: Khi con đã bị cảm lạnh hay sốt tức là lúc hệ thống miễn dịch đã cần phải hoạt động hết công suất. Nếu bé bị lặp đi lặp lại, sốt cao hơn 3 ngày kèm theo các biểu hiện ớn lạnh, đau đầu hay co giật thì mẹ cần đưa con đi khám bác sỹ ngay lập tức.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

Khác biệt khi bé bú mẹ 100% và bé bú SCT (Sữa Công Thức)

HIỆN TƯỢNG HỞ RUỘT: khi niêm mạc ruột bé sơ sinh không được bảo vệ và hoàn thiện bởi 72g vàng sữa non.

Trong những bài trước, (Phunudep) đã nhắc đến chức năng bảo vệ của sữa mẹ. (CM nên tìm đọc.)
Hôm nay, (Phunudep) bàn kỹ hơn về niêm mạc ruột non của bé và ảnh hưởng khác biệt khi bé bú mẹ 100% và bé bú SCT (Sữa Công Thức) nhé.


Hầu hết các hệ thống cơ thể của bé chưa hoàn chình khi được sinh ra, và cần tiếp tục được hoàn thiện và được bảo vệ trong suốt quá trình các hệ thống cần được hoàn thiện nữa, để bé sống khoẻ mạnh trong môi trường ngoài bào thai. Chỉ SỮA MẸ mới thực hiện được 2 chức năng bảo vệ và hoàn thiện này.

Ruột non là ống dài nhất trong hệ tiêu hóa (trung bình khoảng 1-2m ở trẻ nhỏ 6.5m ở ngươi trưởng thành).
Tổng diện tích bề mặt bên trong của ruột non đạt tới 400-500m2 nhờ vào lớp niêm mạc ruột có các nếp gấp, với niêm mạc ruột hoàn chỉnh (LÀM THẾ NÀO ĐỂ HOÀN CHỈNH?) dày đặt các lông ruột (villi) và lông cực nhỏ (micro-villi), là nơi dinh dưỡng được hấp thụ từ hệ tiêu hoá vào máu (hệ tuần hoàn) để đi nuôi cơ thể.

1. Chức năng hoàn thiện niêm mạc ruột của sữa mẹ - Chỉ có trong sữa mẹ

Niêm mạc ruột của trẻ sơ sinh không hoàn chỉnh, nghĩa là các lông ruột chưa hoàn toàn phát triển, đặc biệt là chưa được bao bọc dày đặc bởi các lông cực nhỏ.
Do đó, việc hấp thụ các chất vào cơ thể bé, chưa được kiểm soát và chọn lọc. Hệ lông micro-villi cực nhỏ villi này cần một số yếu tồ có trong sữa mẹ và cần thời gian để phát triển hoàn thiện, trước khi có thể tiếp nhận và xử lý dinh dưỡng thật sự qua đường ruột, cũng như có thể ứng phó với các loại khuẩn lạ và mầm bệnh trong môi trường. Khuẩn từ bố mẹ (đặc biệt là từ mẹ) là thân thiện với bé, và trong sữa mẹ có các kháng thể để kháng toàn bộ các khuẩn này, nên người ta còn gọi sữa non đầu tiên vào bụng bé là "mũi tiêm phòng/ chích ngừa".

Một số thành phần chủ yếu giúp phát triển niêm mạc ruột:

EGF (Epidemmal Growth Factor): Kích thích quá trình thiết lập và hoàn thiện của niêm mạc hệ tiêu hoá (và hệ hô hấp).
kích thích sự phát triển của các lông ruột (villi) và lông cực nhỏ (micro-villi) giúp các điểm tiếp nhật dinh dưỡng (receptive site) ở niêm mạc ruột được che chắn (gut closure).
khi ruột được che chắn, các chất độc hại, tế bào lạ, mầm bệnh, vi khuẩn có hại, thức ăn chưa phân huỷ đúng, men nấm có hại sẽ bị các lông cực nhỏ này cản lại, không hấp thụ vào cơ thể, mà sẽ được đẩy xuống ruột già vào phân để thải ra ngoài.
TGF (Transforming Growth Factor): Kích thich sự phát triển của hệ tiêu hoá.
Cm nghĩ xem điều này giải thích vì sao bé bú mẹ có thể đi phân khác nhau hàng ngày, có thể đi phân hoa cải hoa cà, có thể phân loạn khuẩn, mùi tanh, mùi chua, có bọt, nhiều ngày k đi... nhưng không phải là bịnh lý? Vì các thứ thải ra phân đó không hề bị hấp thụ vào cơ thể như với bé bú sữa ct và bị hở ruột.
Ngoài ra, với kiến thức này, các mẹ nó nên đem phân của con bú mẹ hoàn toàn đi thử khuẩn không? Nếu phân bé bú mẹ loạn khuẩn có gì đáng ngại k? Kiến thức này có áp dụng cho bé bú sữa ct k?
Như (Phunudep) vẫn nhắc, kiến thức nuôi con sữa mẹ và nuôi con sữa ct hoàn toàn khác nhau mà

2. Chức năng bảo vệ Chỉ có trong sữa mẹ
  • Khả năng diệt khuẩn (bacteriocidal activity),
  • Chống virus (antiviral activity)
  • Chống sưng tấy
  • Chống viêm nhiễm
  • Tạo dung môi cho các vi khuẩn có lợi phát triển trong ruột (pro-biotic bacteria)
  • Hoàn chỉnh và tái tạo niêm mạc ruột bị tổn thương
Nhờ khả năng tái tạo niêm mạc ruột bị tổn thương này, nên những bé không có sữa mẹ trong vài ngày đầu đời, nhưng được bú mẹ hoàn toàn sau đó và trong suốt 6 tháng đầu, vẫn có cơ hội tái tạo và phục hồi niêm mạc ruột.

3. Sữa non là thực phẩm duy nhất bé cần trong 72 giờ đầu:

Với những thông tin nói trên, hẳn nhiều bố mẹ đã hiểu được vì sao 3 ngày đầu bé cần sữa non của mẹ: cô đặc các chất cần thiết cho 2 chức năng trên, theo kiểu nói nôm na là "tráng ruột bằng sữa mẹ" để các lông ruột và lông cực nhỏ có cơ hội phát triển tối đa, đạt đến trạng thái hoàn chỉnh, giúp bé có hệ tiêu hoá tối ưu ngay từ nhỏ.

Sữa non đặc hơn, lượng ít hơn, dinh dưỡng thấp hơn, thế nhưng lại phù hợp hoàn toàn với dung tích dạ dày của trẻ sơ sinh (5ml) và ưu tiên thời gian cho niêm mạc ruột được hoàn chỉnh.
Cm tham khảo bài "Dung tích dạ dày và Nuôi dưỡng sinh học" để hiểu 72 giờ đầu đời bé được cung cấp dinh dưỡng từ lượng mỡ dự trữ trong cơ thể bé như thế nào, và vì sao bé giảm cân 10% trong 3-4 ngày đầu sau khi sinh là hoàn toàn bình thường.

Xem thêm:
4. Tác hại của sữa CT

Chúng ta được dạy trông cậy nhiều vào thị giác của mình, "trăm nghe không bằng một thấy", mà cái chúng ta thấy được thật sự là khiếm khuyến và giới hạn.

Khi sinh con ra, chúng ta hầu như không biết được rằng lớp niêm mạc này cực kỳ quan trọng cho sự phát triển của bé, mà lại cực kỳ dễ bị tổn thương ở trạng thái chưa hoàn chỉnh này.
Sữa ct không những không có các chất bảo vệ và hoàn thiện cần thiết cho niêm mạc ruột khiến lông ruột bị thiếu hẳn các lông cực nhỏ, mà sữa ct còn chứa các hoá chất, khuẩn lạ (và cả khuẩn có hại do nhiễm nhôm, nhiễm độc ngay từ dây chuyền sx) gây kích ứng lớp niêm mạc mong manh, gây viêm nhiễm, sưng tấy... gây nên hiện tượng hở ruột (leaky gut).

Hiện tượng ruột hở là nguyên nhân chính tăng nguy cơ nhiễm các loại bệnh từ nhỏ đến lớn, từ các bệnh phổ biến như tiêu chảy cho đến các bệnh nguy hiểm như ung thư, do chất độc, tế bào bất thường, mầm bệnh thâm nhập vào cơ thể và tích tụ dần dần trong cơ thể.

Mặc dù niêm mạc ruột bị kích ứng và sưng tấy, nhiều bé vẫn có thể ăn ngủ bình thường, tăng cân tốt (do bất kỳ chất gì đưa vào ruột cũng được hấp thụ), khiến bố mẹ cảm thấy sct phù hợp cho em bé của họ. Một số bé có biểu hiện phản ứng với sct như nôn trớ, đi tiêu ra máu, gây được sự chú ý và khiến bố mẹ lo lắng và ngưng cho bé bú sct.

Có một vị rất uy tín trong ngành nhi quốc tế nói rằng, nếu không có sữa mẹ trong ngày đầu, k cho bé uống gì cả còn tốt hơn nhiều so với cho bé bú sữa công thức.
Trong hình minh hoạ của bài viết này, (Phunudep) chia sẻ hình ảnh chụp kính hiển vi của niêm mạc ruột mạnh khoẻ (1) và niêm mạc ruột bị sưng tấy và thiếu lông ruột và lông cực nhỏ (2c) và gây nên hiện tượng hở ruột (2b). (Phunudep) tin rằng, nếu bố mẹ cho con bú sct ngay sau khi sinh, hoặc nuôi con hoàn toàn bằng sữa ct, nhìn kỹ hình ảnh niêm mạc sưng tấy này hàng ngày, họ sẽ tìm mọi cách để cho con bú sữa mẹ và không ỉ lại vào sct nữa.

(Phunudep) để thêm 2 hình minh hoạ da mạnh khoẻ (A) và da sưng tấy (A), để gợi nhớ cho cm tổn thương bên trong của con, nếu mà cm có thể nhìn thấy.
Không mẹ nào nỡ măc kệ cho con mình sưng tấy da mỗi ngày, vậy hãy nhớ đừng mặc kệ niêm mạc ruột sơ sinh của con, khi nó bị sct làm sưng tấy, và lớn lên với hiện tượng ruột hở.
Con của bạn cần được bảo vệ từ bên trong, trọn đời, trong một môi trường sống vốn có nhiều ô nhiễm và thực phẩm độc hại như thế này.
5. Kết luận:

Để con được bú mẹ hoàn toàn ngay từ sau khi sinh, cm hãy đọc, nghiên cứu sớm và ứng dụng các kỹ năng nuôi con sữa mẹ từ trong thai kỳ, vd kiến thức về dung tích dạ dày của con, về cơ chế cơ thể sơ sinh sử dụng năng lượng dự trữ trong 72 giờ đầu và những kỹ năng chăm sóc bầu vú mẹ... mà (Phunudep) đã chia sẻ.

Chúc các mẹ có thêm động lực để nuôi con sữa mẹ 100% - để cương quyết NÓI KHÔNG với sữa công thức ngay từ phút đầu tiên - để cho con sự khởi đầu hoàn hảo đúng nghĩa!

9 Nguyên tắc vàng ăn dặm dành cho trẻ bú mẹ ( Phần 1 )

Theo tài liệu "Guiding Principles for Complementary Feeding of the Breastfed Child" - của Tổ chức Y tế Thế giới WHO 2004


Có lẻ muốn biết làm thế nào là "đúng" thì luôn luôn phải biết là đúng theo chuẩn nào, nguyên tắc nào, sơ sở khoa học nào. Do đó, trong loạt bài viết về ăn dặm (Phunudep) giới thiệu đến các bố mẹ những nguyên tắc và cơ sở khoa học của Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO).


Như (Phunudep) cũng đã nhiều lần nhắc các bố mẹ rằng, nuôi con sữa mẹ và nuôi con sữa công thức là hai phạm trù khác hẳn nhau, không nên chân nọ xọ giày kia. Ngay cả đối với tài liệu hướng dẫn các nguyên tắc ăn dặm cho trẻ nhỏ, WHO cũng có riêng 2 tài liệu, dành cho trẻ bú mẹ (WHO 2004) và dành cho trẻ bú sct (WHO 2005).

NGUYÊN TẮC 1: 

Cho bé bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời và cho bé ăn dặm khi bé đã được 6 tháng (180 ngày) song song với bú mẹ.

Cơ sở khoa học:

Tháng 5/2001, Hội đồng Y tế Thế giới (World Health Assembly) kêu gọi các nước thành viên thúc đẩy việc trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời vì nền y tế công cộng toàn cầu.
Đề nghị này được dựa vào báo cáo khoa học năm 2001 của Ban Chuyên gia Tư vấn của WHO về "Thời gian tối ưu của việc bú mẹ hoàn toàn - Optimal Duration of Exclusive Breastfeeding" (WHO 2001).

Báo cáo khoa học này xem xét một cách có hệ thống tất cả các bằng chứng từ từ các nghiên cứu trên thế giới và đưa đến kết luận rằng việc bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng có nhiều lợi ích cho cả mẹ và bé. Đứng đầu trong số các lợi ích này là các tác dụng bảo vệ chống lại nhiễm trùng đường tiêu hóa cho trẻ sơ sinh, không chỉ ở những quốc gia đang phát triển và ngay cả ở những quốc gia công nghiệp hiện đại. Có một số bằng chứng khác cho thấy khả phát triển vận động cũng được tăng cường nhờ bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời.

Đối với người mẹ, việc cho con bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng giúp kéo dài thời gian vô kinh và giảm cân nhanh. Giảm cân là có lợi với hầu hết phụ nữ tăng cân nhiều trong thai ký, nhưng có thể là bất lợi đối với phụ nữ thiếu cân, nhưng với nhóm này, có thể đảm bảo bằng chế độ dinh dưỡng phù hợp.
Nghiên cứu trên diện rộng cho thấy rằng không có bất kỳ bất lợi nào về phát triển của trẻ khi trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời mà cần phải cho bé ăn dặm sớm hơn 6 tháng. Cho dù bé sinh đủ tháng hay sinh nhẹ cân thì sữa mẹ cũng cung cấp đủ dinh dưỡng cho bé hoàn toàn trong 6 tháng đầu. (WHO / UNICEF, 1998).

Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, một số các chất vi lượng có thể bị thiếu hụt trước sáu tháng.
Vd- chất sắt: Vì cơ thể bé cần sử dụng năng lượng từ 2 nguồn, nguồn chất sắt dự trữ từ sơ sinh (do máu từ nhau được hút hết sang trẻ sơ sinh vài phút ngay khi sinh) và nguồn sữa mẹ. Trong trường hợp bé sinh đủ tháng, cân nặng bình thường có mẹ không bị thiếu máu trong thai kỳ, thì nguy cơ thiếu sắt trước 6 tháng của bé rất thấp. Đối với bé nhẹ cân hoặc mẹ bị thiếu máu trong thai kỳ thì nguy cơ thiếu sắt từ tháng thứ 2, 3 cao hơn và sẽ được kê toa uống bổ sung sắt bắt đầu từ 2 hoặc 3 tháng. 

Các chất vi lượng khác có thể bị thiếu là kẽm, vì mặc dù khả năng hấp thụ kẻm trong sữa mẹ trong sữa mẹ cao, nhưng nồng độ tương đối thấp. Tương tự như sắt, lượng dự trữ từ máu nhau thai khi sinh là quan trọng để có đủ kẽm. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có bằng chứng nào là thiếu kẽm trước 6 tháng ảnh hưởng đến sự phát triển của bé. Tương tự như cách xử lý trong trường hợp thiếu sắt, bé thiếu kẽm có thể được uống kẽm bổ sung.

Thiếu hụt vitamin thường hiếm gặp ở trẻ bú mẹ, nhưng nếu bà mẹ có chế độ dinh dưỡng lệch (thiếu hẳn một số chất, vd mẹ ăn chay...), trẻ sơ sinh có thể thiếu của một số vitamin (như vitamin A, riboflavin, vitamin B6, và vitamin B12). Trong tình huống này, có thể hoặc là cải thiện chế độ dinh dưỡng của người mẹ hoặc bổ sung cho bé theo chỉ định của bác sĩ trong thời gian cần thiết, thay vì cho bé ăn dặm sớm.
Vitamin D có thể thiếu ở những bé ở một số vùng xứ lạnh, không được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, bé có thể được bổ sung vitamin D trực tiếp nếu cần.

Bài viết (Phụ nữ đẹp) đã giải thích chi tiết về khi nào cần bổ sung D và nên bổ sung ntn theo tài liệu " Nutrient Adequacy of Exclusive Breastfeeding for The Term Infant in the First Six Months of Life (WHO 2002)
Cần biết rằng tăng trưởng và phát triển của bé, hoặc việc bổ sung các chất vi lượng, nếu cần, cũng không hề được cải thiện nhờ ăn dặm sớm, ngay cả trong điều kiện tối ưu (tức là, dinh dưỡng, an toàn vệ sinh thực phẩm). Mà ngược lại, các loại thực phẩm ăn dặm trước 6 tháng sẽ làm giảm khả năng nhận được tối đa sữa mẹ của bé.

Các Chuyên gia của WHO kết luận rằng đợi đến đủ 6 tháng mới bắt đầu cho bé ăn dặm có nhiều giá trị lợi ích sức khoẻ lâu dài, chứ không có bất kỳ bất lợi nào cho bé bú mẹ hoàn toàn suốt 6 tháng. Đồng thời, từ sau 6 tháng tuổi, nguồn dự trữ của một số vi chất dự trữ trong cơ thể bé từ máu của nhau thai đã cạn, nhu cầu của bé lại tăng, do đó, sữa mẹ đến giai đoạn này không đáp ứng nhu cầu của một số chất, nên việc bé ăn dặm để tiếp nhận thêm dưỡng chất từ một số thực phẩm khác bên cạnh sữa mẹ là cần thiết.

Tuy nhiên, trong môi trường vệ sinh về môi trường tồi tệ (dịch bệnh, thiên tai...), các bé có thể ăn dặm muộn hơn 6 tháng để các bé được giảm nguy cơ tiếp xúc với các mầm bệnh truyền qua các thực phẩm ăn dặm.
Ở độ tháng tuổi này, bé cũng đã bắt đầu chủ động tìm hiểu môi trường xung quanh và sẽ tiếp xúc với các chất độc vi sinh trong môi trường xung quanh, cho dù bé có bắt đầu ăn dặm hay không.

Do đó, báo cáo khoa học này kết luận 6 tháng (180 ngày) là độ tuổi thích hợp nhất để bắt đầu tập cho bé ăn dặm.

Xem thêm:
NGUYÊN TẮC 2: 

Tiếp tục duy trì sữa mẹ, cho con bú theo nhu cầu và thường xuyên cho đến ngoài 2 tuổi.

Cơ sở khoa học:

Tiếp tục cho con bú góp phần dinh dưỡng và năng lượng tốt hơn trong năm đầu đời. Trẻ em bú sữa mẹ trong giai đoạn 12 - 23 tháng nếu vẫn bú mẹ được đúng với dung lượng tiêu thụ "trung bình" của sữa mẹ ở độ tuổi đó (khoảng 550g/ ngày; WHO / UNICEF, 1998) nhận được 35-40% tổng nhu cầu năng lượng từ sữa mẹ.
Bởi vì sữa mẹ có hàm lượng chất béo tương đối cao so với hầu hết các loại thực phẩm bổ sung, sữa mẹ là nguồn năng lượng và các axit béo thiết yếu quan trọng cho sự phát triển của bé. 

Hàm lượng chất béo của sữa mẹ rất quan trọng cho việc hấp thụ vitamin A trong chế độ ăm dặm chủ yếu là rau củ của bé ở giai đoạn này. Sữa mẹ cũng tiếp tục cung cấp một lượng đáng kể các vi chất dinh dưỡng nhất định. Trong Gambia, người ta ước tính rằng sữa mẹ cung cấp 70% vitamin A, 40% canxi và 37% lượng riboflavin (vitamin B2) trong giai đoạn 15-18 tháng tuổi (khoảng còn lại cần được hấp thụ qua ăn dặm).

Hiệu quả dinh dưỡng của việc bú mẹ có thể thấy rõ ràng nhất những khi bé bị bệnh, khi bé chán ăn bất kỳ thức ăn nào khác, nhưng bé vẫn có thể được bú bù bắng sữa mẹ, do đó ngăn ngừa được mất nước và không sợ thiếu chất trong giai đoạn phục hồi trong và sau khi bị bệnh.

Cho con bú tiếp tục sau 6 tháng giữ phần quan trọng trong việc dinh dưỡng tốt hơn trong năm đầu đời của bé. Cho con bú dài hơn (ngoài 1 năm) giúp giảm nguy cơ giảm các bệnh mãn tính, béo phì và còn giúp nâng cao phát triển nhận thức cho bé tốt hơn.

NGUYÊN TẮC 3: 

Thực hành "PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN ĐÁP ỨNG", áp dụng các nguyên tắc chăm sóc tâm lý - xã hội. 

Đặc biệt là các nguyên tắc sau: 

Bón/ đút cho bé nhỏ và giúp bé lớn hơn tự ăn khi bé tự làm được.
Bón/ đút ăn chậm rãi và kiên nhẫn và khuyến khích bé ăn chứ k được ép
Bếu có nhiều loại thực phẩm bé không muốn ăn, thử thay đổi các phối hợp mùi vị, "cảm nhận" và các Phương pháp khuyến khích khác nhau
Giảm thiểu các yếu tố gây phân tâm trong khi ăn, nếu bé thuộc dạng dễ mất tập trung vào bửa ăn
Luôn nhớ rằng giờ ăn là giờ học ẩm thực và học yêu thương - do đó phải trò chuyện với bé và luôn nhìn bé và giao tiếp (eye-to-eye) với bé.

Cơ sở khoa học:

Càng ngày càng có nhiều nghiên cứu công nhận rằng việc ăn dặm tối ưu không chỉ là ăn gì, mà còn là cho ăn như thế nào, khi nào, ở đâu và có liên quan đến tính cách của từng bé như thế nào. Các nghiên cứu về hành vi cộng đồng cho thấy rằng cách cho ăn "bỏ mặc" lại khá phổ biến ở những cộng đồng nghèo, bé không được khuyến khích ăn, mà chỉ được quan tâm khi bỏ ăn hoặc bị bệnh. Ở thái cực khác, trẻ con lại bị ép ăn, không học được cách ăn trong tinh thần giao tiếp "đáp ứng".

Một nghiên cứu ở Ghana năm 1999 cho thấy áp dụng "phương pháp quan tâm" (thay vì "bỏ mặc") có tác động tốt đối với bé, cho dù với mẹ ít học hay thất học. Các số nhóm nghiên cứu năm 2002 cũng đề xuất rằng hành vi ăn uống cần được bao gồm trong các hoạt động cần được khuyến khích vì các hành vi này có tác động tích cực đến sự phát triển trẻ em.

Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có nhiều báo cáo rõ ràng về mối quan hệ này giữa cách cho ăn và sự phát triển của trẻ. Hy vọng rằng trong tương lai, khi có nhiều dữ liệu về các nghiên cứu hành vi này, chúng ta có thể xác định rõ hơn loại hành vi ăn uống nào thật sự mang lại kết quả tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát triển hành vi và tính cách lâu dài của bé.

Trong thời gian này, các hành vi "Phương pháp cho ăn đáp ứng" đã được sự đồng thuận của các chuyên gia trong lĩnh vực này.

NGUYÊN TĂC 4: 

Thực hành các nguyên tắc VỆ SINH đúng và BẢO QUẢN thực phẩm an toàn bằng cách: 
  • Rửa tay cho người chăm sóc và tay bé trước khi chuẩn bị thức ăn và trước khi ăn
  • Trữ thực phẩm an toàn và cho bé ăn ngay sau khi chế biến
  • Dùng dụng cụ sạch để chế biến và dọn thức ăn
  • Dùng ly chén (cốc bát) sạch để cho bé ăn, và
  • Tránh cho bé ăn dặm bằng bình, khó vệ sinh
Cơ sở khoa học:

Chú ý thực hành thói quen giữ vệ sinh tốt nhất trong quá trình chuẩn bị thức ăn và cho ăn là rất quan trọng, để phòng ngừa các bệnh tiêu hoá.

Tỷ lệ tiêu chảy cao nhất trong giai đoạn từ 6 đến 12 tháng, khi bé bắt đầu ăn dặm tăng dần. Thực phẩm nhiễm khuẩn là nguyên nhân chính gây tiêu chảy ở trẻ em, và có thể được ngăn ngừa bằng cách thực hiện những nguyên tắc nên trên. Bởi vì thực phẩm là thứ khó giữ sạch và dùng bình sữa lại là thêm một nguồn truyền mầm bệnh. Một nghiên cứu ở Pẻu năm 1989 cho thấy 35% của núm ti bình có vi khuẩn E. coli (vi khuẩn gây tiêu chảy) và 31% của các loại thức uống cho bú trong bình sữa trẻ em bị nhiễm E. coli so với chỉ 2% cho uống bằng ly.

Sử dụng các thực phẩm lên men (sữa chua/ yaourt, phô mai...) có thể làm giảm nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật và và cũng giúp nâng cao hàm lượng dinh dưỡng (WHO, 1998).

NGUYÊN TẮC 5: 

Tăng dần độ đặc loãng và mức độ phong phú của thực phẩm khi bé lớn dần, phù hợp với khả năng và nhu cầu của bé.

Bé nhỏ có thể ăn thức ăn xay, nghiền, mềm (semi-solid) khi bắt đầu lúc 6 tháng tuổi. Đến 8 tháng, hầu hết các bé có thể ăn thức ăn cầm tay (bé có thể tự ăn các bửa phụ). Đến 12 tháng, hầu hết các bé có thể ăn theo các món ăn trong bửa ăn của cả nhà (chú trọng các thực phẩm giàu dinh dưỡng như giải thích dưới đây trong tài liệu này).

Tránh những thực phẩm dễ gây hóc/ nghẹn (vd, những món cho hình dáng và độ cứng có thể gây nghẽn khí quản như một số loại hạt, quả nho, cà rốt sống). Khi bé ăn thực phẩm quá cứng so với độ tuổi, bé sẽ ăn được rất ít và thời gian để ăn xong 1 món này lâu hơn, ảnh hưởng đến tổng lượng mà bé ăn được trong 1 bửa.

Cơ sở khoa học:

Theo mức phát triển thần kinh cơ của trẻ cho thấy độ tháng tuổi tối thiểu phù hợp để bé có thể ăn một loại thực phẩm nào đó (WHO/ UNICEF 1998).

Thức ăn mềm hoặc xay nhuyễn là cần thiết lúc đầu, cho đến khi khả năng "ăn trệu trạo" (chuyển động lên và xuống của hàm dưới) hoặc khả năng "nhai" (dùng răng) xuất hiện.

Độ tháng tuổi được nên ở trên tiêu biểu cho khả năng chung của trẻ sơ sinh khỏe mạnh.

Khi bé ăn thực phẩm quá cứng so với độ tuổi, bé sẽ ăn được rất ít và thời gian để nhai món này lâu ảnh hưởng đến tổng lượng thức ăn mà bé ăn được trong 1 bửa mà bé. Bằng chứng từ nhiều nguồn nghiên cứu khác nhau cho thấy, đến 12 tháng trẻ có thể ăn đặc như "các loại thực phẩm gia đình", mặc dù nhiều bé vẫn còn được cho ăn các loại thực phẩm mềm (có lẽ bởi vì bé ăn quen hơn, nên giảm thời gian cho người chăm sóc).

Có bằng chứng cho thấy "khoản thời gian quan trọng" để bé "quen với thức ăn đặc và không nhuyễn" là trước 10 tháng. Nếu bé ăn hoàn toàn xay nhuyễn quá 10 tháng, bé sẽ có khó khăn trong việc ăn sau này.
Do đó, mặc dù, cho bé ăn thức ăn mềm và nhuyễn tiết kiệm thời gian, bố mẹ phải chú ý cho bé thức ăn đặc và không nhuyễn đúng lúc (trước 10 tháng tuổi) để bé phát triển nhận thức thần kinh cơ tối ưu (cơ hàm, cơ lưỡi, cơ má, cơ cổ..) và ăn được dễ dàng các loại thức ăn đặc hơn về sau này.

NGUYÊN TẮC 6: 

Số lượng bửa ăn dặm và mức độ NĂNG LƯỢNG của thức ăn dặm. Tăng dần số bửa ăn phú hợp với tháng tuổi. Số lượng bửa ăn cũng phụ thuộc vào mức độ cung cấp năng lượng của các loại thức ăn và số lượng mỗi bửa.

Đối với một em bé bú mẹ, khoẻ mạnh, bé chỉ nên ăn 2 - 3 bửa nhỏ / ngày từ 6 đến 8 tháng, và 3 - 4 bửa từ 9 đến 11 tháng, và cũng như thế thêm 1 - 2 bửa phụ có chất từ 12 đến 24 tháng. Bửa phụ được định nghĩa là những thực phẩm được ăn giữa các buổi chính, mà bé có thể tự ăn được, dễ ăn và dễ chuẩn bị. Tuy nhiện, nếu mức độ dinh dưỡng và lượng thức ăn mỗi bửa thấp, hoặc bé không còn được bú mẹ nữa, thì bé phải ăn nhiều bửa hơn.

Cơ sở khoa học:

Nguyên tắc trên đây được tình toán dựa trên nhu cầu năng lượng cần có từ ăn dặm và giả định dung tích dạ dày của bé khoảng 30g/ kg trọng lượng cơ thể và mức năng lượng tối thiểu của thực phẩm ăn dặm là 0.8kcal/g. Để tính được số lượng bửa ăn cần thiết tối thiểu như nêu ở trên (2 bửa từ 6 - 8 tháng và sau đó là 3), năng lượng cần thiết mỗi ngày phụ thuộc vào độ tuổi và tính theo bé khoẻ mạnh (phù hợp với hầu hết các bé) trừ đi năng lượng trung bình mà bé đã nhận được từ sữa mẹ. Trẻ em được bú mẹ ít hơn, sẽ cần tăng thêm một bửa ăn mỗi ngày (3 bửa từ 6- 8 tháng và sau đó là 4).

Xem bảng "Số bửa ăn cho bé" trong hình minh hoạ.


Nguyên tắc này cũng đưa ra cho chúng ta độ năng lượng tối thiểu trong thực phẩm ăn dặm và lượng sữa mẹ và bé tiếp tục bú, để biết bé cần ăn thêm vao nhiêu cử.
Các mẹ cần nhớ rằng, cho con ăn dặm nhiều hơn cần thiết không có lợi gì cả, chỉ làm mất khả năng bú thêm sữa mẹ. Do đó, chú ý chỉ nên cho bé ăn những thực phẩm ăn dặm giàu năng lượng hơn sữa mẹ.

Một chương trình marketing năm 1998 ở Guatemala khuyến khích sai lầm rằng bé từ 19 đến 24 tháng cần ăn dặm đến 5 bửa/ 1 ngày đã dẫn đến hậu quả là bé giảm hẳn khả năng tiếp tục bú mẹ từ 7 cử bú mẹ hàng ngày trước chương trình marketing, xuống còn 4 cử/ ngày sau khi bé tăng ăn dặm, là không tốt cho bé. Ngoài ra, việc chuẩn bị 5 bửa ăn dặm 1 ngày cũng tốtn nhiều thời gian và công sức để chăm bé mà không thật sự cần thiết, dẫn đến tình trạng thức ăn được làm sẳn cho nhiều bửa nhưng lại k được trữ đúng cách dẫn đến trình trạng thức ăn dặm của bé bị nhiễm khuẩn.

Khi thêm 1, 2 bửa ăn phụ cho bé ngoài 1 tuổi, có thể cho bé ăn một mẩu bánh, một mẩu trái cây, không cần phải chuẩn bị bửa ăn, bé tự ăn được một mình mà không sợ bé bỏ cử sữa mẹ.

NGUYÊN TẮC 7: 

Dưỡng chất của thức ăn dặm. Cho bé ăn phong phú để đảm bảo bé nhận được đầy đủ dưỡng chất. Thịt đỏ, thịt gia cầm, cá, trứng cần được cho ăn hàng ngày hoặc thường xuyên. (Bé không thể ăn chay ở giai đoạn này, trừ khi sử dụng thực phẩm có bổ sung chất đặc dụng.)

Trái cây và rau củ giàu vitamin A phải được ăn hàng ngày. Dinh dưỡng cũng cần đủ chất béo (để hấp thụ các vitamin tan trong chất béo). Tránh cho bé uống nhiều nước hoặc các loại giải khát dinh dưỡng thấp, như soda, nước ngọt, trà... ngay cả nước ép trái cây cũng nên giới hạn, để không làm giảm lượng chất giàu dinh dưỡng khác cần cho bé, như sữa mẹ.

Cơ sở khoa học:

Chỉ cho bé ăn thực phẩm giàu dưỡng chất:

Bởi vì nhu cầu lớn và phát triển nhanh chóng của bé trong 2 năm đầu đời, tỉ lệ lượng chất cần thiết / trọng lượng của cơ thể bé là rất cao (so với người lớn tính trên trọng lượng cơ thể). Sữa mẹ vẫn cung cấp đáng kể dưỡng chất cho trẻ từ 6 đến 24 tháng, cụ thể là protein và rất nhiều loại vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên, một vài chất như sắt, kẻm và vitamin A ở giai đoạn này thấp hơn nhu cầu của bé.
Ví dụ, từ tháng 9 đến tháng 11, tỉ lệ các chất bé cần phải nhận từ ăn dặm như sau:
  • 97% chất sắt
  • 86% kẽm
  • 81% phốt pho
  • 76% ma-nhê
  • 73% muối
  • 72% can-xi

Vì bé ăn được lượng rất ít, do đó các thức ăn dặm phải giàu dinh dưỡng, có nghĩa là hàm lượng dưỡng chất/ mỗi kcal thực phẩm rất cao), cách tính hàm lượng dưỡng chất đã được đăng trong tài liệu WHO/ UNICEF 1998) và khi chúng ta so sánh bảng tính hàm lượng dưỡng chất này với một số thức ăn mà cộng đồng hay dùng cho bé ăn dặm thì nhận ra rằng các thực phẩm ăn dặm đó "có vấn đề" vì chỉ đầy bụng, nhưng các dưỡng chất cần bổ sung như nêu trên thấp và năng lượng rất thấp. Đồng thời thực phẩm rau hoa quả cũng không đủ các dưỡng chất cần thiết mà bé phải được ăn dặm thịt cá thường xuyên. Sữa cung cấp nhiều canxi, nhưng lại không giàu sắt.

Theo Viện Nhi khoa Hoa kỳ AAP, nếu gia đình có tiền sử dị ứng, thì không nên cho bé dùng sữa bò trước 1 tuổi và trứng trước 2 tuổi, đậu phộng và cá trước 3 tuổi. Có thể thay thế bằng sản phẩm sữa lên men như sữa chua (yaourt) và phô mai. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu quốc tế khác của WHO/ IAAC 2000 thì không cần phải kiêng cử như vậy.

Nguyên tắc này nhấn mạnh bé cần được ăn những loại thức ăn, trái cây, rau củ nhiều vitamin A hàng ngày không những có lợi ích là giúp bé không bị thiếu vitamin A, mà còn vì thường những thực phẩm này cũng giàu nhiều loại vitamin khác mà bé cần.

(Bộ Y tế mỗi quốc gia được khuyến khích thành lập danh sách hàm lượng dinh dưỡng và năng lượng các thực phẩm phổ biến trong nước.)

Hàm lượng chất béo. 

Chất béo rất là cần thiết trong chế độ dinh lưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bởi vì nó cung cấp các acid béo thiết yếu, giúp hấp thụ các vitamin tan trong chất béo, và giúp tăng thêm mức năng lượng của thực phẩm. 

Sữa mẹ là một nguồi dồi dào chất béo hơn hầu hết các loại thực phẩm ăn dặm khác. Vì thế năng lượng từ chất béo cũng giảm dần khi bé bú mẹ giảm dần và ăn dặm nhiều hơn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh luận là bé cần bổ sung bao nhiêu chất béo qua việc ăn dặm là tối ưu, mức độ được đề nghị là 30%-45% tổng năng lượng cần thiết theo tháng tuổi, nhưng cũng còn tuỳ thuộc vào bé có còn bú mẹ nhiều hay không.

Ví dụ, bé vẫn tiếp tục bú mẹ và lượng chất béo trong sữa mẹ là 38g/L, lượng chất béo trong thực phẩm ăn dặm của bé 6 - 8 tháng là 0-4%, 9 - 11 tháng là 5-38%, 12 - 23 tháng là 17-42%. (Chỉ số thấp hơn vd 0% ở trẻ 6-8 tháng tuổi là dành cho trẻ vẫn có sữa mẹ dồi dào, vì đã nhận đủ chất béo từ sữa mẹ. - Xem thao khảo thêm trong hình minh hoạ)

Do đó, khi lập chế độ dinh dưỡng cho bé nên hiểu tầm quan trọng của việc thêm chất béo vào thực phẩm (vd cháo) để tăng năng lượng cho thực đơn, nhưng phải nhớ cân bằng, không thừa, không thiếu.
Ví dụ, một thìa nhỏ dầu ăn cho 100g hạt kê (món cháo phổ biến ở Châu Phi) tăng năng lượng từ 0.28 lên thành 0.73 kcal/g, nhưng cách làm này lại làm giảm tỉ lệ năng lượng cung cấp từ protein từ 8.9% thành 3.3% và hàm lượng chất sắt từ 0.5mg còn 0.2mg/ 100 kcal. Những tác động này có thể gây nên suy sinh dưỡng trong cộng đồng, trừ khi có những biện pháp để đảm bảo các bé được bổ sung đầy đủ các vi chất.

Phải bỏ các loại nước ngọt, soda, bởi vì các loại nước này cung cấp một ít năng lượng nhưng lại khiến bé không thích ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng hơn.

NGUYÊN TẮC 8: 

Dùng thức ăn dặm có bổ sung vi chất hoặc cho bé uống uống vitamin khi cần:

Trong một vài vùng dân cư các mẹ sữa có thể cần dùng thực phẩm có bổ sung vừa để mẹ mạnh khoẻ và đủ chất, vừa đảm bảo đầy đủ dưỡng chất (đặc biệt là vitamin) cho sữa. Các loại thực phẩm/ thuốc bổ sung cũng có thể cần trước khi và trong khi mang thai)

Cơ sở khoa học:

Các thực phẩm ăn dặm gốc thực vật có thể không đủ một số dưỡng chất như sắt, kẻm và canxi, để đắp ứng nhu cầu dưỡng chất chính của bé từ 6 đến 24 tháng (WHO/ UNICEF 1998). Đưa thực phẩm gốc động vật vào thực ddown là cách tốt để đáp ứng cho các dưỡng chất này, tuy nhiên có thể hơn tốn kém cho các hộ nghèo.

(Bộ Y tế các nước cần đánh giá các thực đơn ăn dặm phổ biến để đánh giá xem cách ăn dặm phổ biến trong cộng đồng trong nước có đáp ứng nhu cầu của các dưỡng chất chính này không, và có các biện pháp bổ sung và điều chỉnh.)

Gia tăng vitamin trong chế độ dinh dưỡng của bà mẹ cho con bú là cách đầu tiên để đảm bảo bé nhận được vitamin và các chất vi lượng đầu tiên và nhiều nhất từ sữa mẹ. Sau đó, cộng với thực phẩm ăn dặm, và nếu vẫn chưa đủ dưỡng chất thì mới bổ sung cho bé.

NGUYÊN TẮC 9: 

Ăn uống trong và sau khi bé ốm/bệnh

Tăng uống nhiều hơn ăn, đặc biệt là bú nhiều sữa mẹ trong thời gian bệnh. Khuyến khích bé ăn các thực phẩm mềm, phong phú, ngon mà bé thích. Sau khi bé khỏi bệnh, dọn cho bé nhiều thức ăn hơn bình thường và khuyến khích bé ăn nhiều hơn.

Cơ sở khoa học:

Trong khi bệnh, cơ thể cần nhiều chất lỏng hơn bình thường. Bé bị bệnh cũng thường thích bú mẹ hơn là các loại thức ăn khác, do đó các mẹ được khuyên cho con bú thường xuyên hơn khi bé bệnh. Mặc dù bé sẽ biếng ăn, bé vẫn cần dưỡng chất để chống bệnh, nên vẫn cần ăn dặm, nhưng có thể ăn ít hơn bình thường. Sau khi bé lành bệnh, bé cần nhiều dưỡng chất hơn để bổ sung cho phần dưỡng chất bị mất trong thời gian bệnh và năng lượng cần để tiếp tục phát triển bù lại cho thời gian bệnh. Bé cần ăn nhiều hơn cho đến khi bé bù lại cân nặng đã bị giảm trong thời gian bệnh và tăng cân trở lại bình thường.

Ở cấp quốc tế, quốc gia và cộng đồng có thể dựa vào tài liệu này để đưa ra các hướng dẫn và khuyến khích cho cộng đồng, dựa trên những nghiên cứu chi tiết hơn theo điều kiện thực phẩm và thói quan dinh dưỡng của địa phương, để tìm ra cách phối hợp thực phẩm phổ biến trong nước một cách tối ưu.

Ví dụ, để hỗ trợ nguyên tắc đầu tiên là bú mẹ trong 6 tháng đầu, cần có chế độ nghỉ hậu sản phù hợp (6 tháng trong trường hợp của Việt Nam là rất phù hợp), các bệnh viện thân thiện với trẻ em BFHI và việc cấm quảng cáo các sản phẩm thay thế sữa mẹ và bình sữa, các lớp tiền sản để dạy thai phụ chuẩn bị kỹ năng nuôi con sữa mẹ ngay từ khi con sinh ra trong bệnh viện và đảm bảo trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có được chế độ tối ưu, bú mẹ và ăn dặm tốt nhất cho sự phát triển của trẻ.

Mặc dù người quyết định cuối cùng rằng sẽ được nuôi nấng, ăn uống như thế nào là bố mẹ/ người chăm sóc trẻ, những quyết định dinh dưỡng mà bố mẹ đưa ra không hoàn toàn độc lập và chịu ảnh hưởng sâu sắc và thể hiện cách mà cả cộng đồng và môi trường xung quanh hiểu về dinh dưỡng của trẻ, các nhà làm chính sách y tế và dinh dưỡng, vì thế, cần giúp cộng đồng có nhưng thông tin hướng dẫn đầy đủ cơ sở khoa học, và những thông điệp truyền thông về dinh dưỡng tối ưu của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ phù hợp với văn hoá của cộng đồng/ quốc gia đó.

Hy vọng bài viết này giúp các mẹ hiểu vì sao không nên cho con ăn dặm trước 6 tháng.

Trong các phần tiếp theo của loạt bài viêt này, (Phunudep) sẽ có những hướng dẫn cụ thể về thực đơn và cách thức ăn dặm theo tháng tuổi (Phunudep) sẽ giới thiệu thêm về tài liệu - "Ăn dặm: Thức ăn Gia đình cho Trẻ Bú Mẹ" - "Complementary Feeding: Family foods for Breastfed Children", WHO 2000) và cách giữ sữa mẹ cho con song song với ăn dặm.

Chúc các mẹ sữa ngày càng tự tin trong công cuộc nuôi con sữa mẹ lâu dài!

Đừng quên: Đóng góp ý kiến dưới đây để nói lên suy nghĩ của các mẹ, các phụ huynh trong quá trình chăm sóc bé ở thời kì bú mẹ và ăn dặm nhé !

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Hãy là bác sĩ 24/24 cho con của bạn

Sinh con ra, nhiệm vụ chăm sóc chúng là do bạn. Đôi khi trẻ mắc bệnh, chúng có thể cần đến bác sĩ, nhưng bình thường, cha mẹ sẽ là những bác sĩ tuyệt vời nhất cho chúng. 

Không những giúp trẻ có một sức khỏe tốt mà cha mẹ chính là bác sĩ về tâm hồn cho mọi đứa con thân yêu của mình.

Trẻ hiếu động và luôn thích sáng tạo và khám phá, bên cạnh đó các cơ của bé chưa được hoàn chỉnh, xương cốt bé dễ rạn nứt, tâm hồn dễ bị tổn thương. Vì vậy, bạn phải là những bác sĩ giỏi trong việc chăm sóc và nuôi dạy con để khiến trẻ trở nên ngoan ngoãn và thông minh hơn.


Dưới đây là những điều, bạn hoàn toàn làm được cho những đứa con thân yêu của bạn.

1. Giáo dục trẻ

Giáo dục trẻ là một bước vô cùng quan trọng mà bạn phải làm ngay từ khi trẻ còn nhỏ. Hãy hướng chúng vào một khuôn nề nếp nhất định. Bạn có làm được không? Nếu không làm được, xin bạn dừng bài viết tại đây và không nên đọc các bước tiếp theo làm gì?

2. Khi con bạn mắc bệnh

Con bạn còn nhỏ nên sức đề kháng vô cùng yếu, chúng khó có khả năng chống lại những căn bệnh mà trở thành nỗi ám ảnh cho các bà mẹ


2.1. Sốt

Khi người lớn sốt chỉ là một điều bình thường. Bởi họ dễ có thể uống thuốc hoặc sức chịu đựng cao hơn. Nhưng, trẻ con thì hoàn toàn ngược lại, trẻ con sốt khiến rất nhiều bà mẹ lo lắng. Sốt kèm theo chúng sẽ chán ăn, dẫn đến gầy gò, thậm chí kèm theo đi ngoài. Khi đó bạn nên đưa cặp nhiệt độ đến gần nó, lấy một khăn lạnh chườm cho nó, và cho uống thuốc dành cho trẻ. Nếu một lúc thấy không đỡ phải đưa ngay đến bệnh viện

2.2. Hóc dị vật lạ

Trẻ con hiếu động và luôn thích cầm những đồ vật lạ. Bên cạnh đó nhiều trẻ vô cùng háu ăn ( cũng là một điều tốt thôi, ăn nhiều thì sẽ chóng lớn ) nhưng khi bạn quên bẵng nó đi một lúc thì nguy hiểm đến gần nó rất dễ xảy ra. Khi bị hóc gì đó, chúng sẽ ho khạc nhiều lần như để cố đưa vật đó ra ngoài. Khi thấy như vậy, bạn hãy nhanh chóng đặt trẻ lên tay bạn với tư thế nằm sấp, dùng tay vỗ phía sau, gần gáy cho vật lạ rơi ra và nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất.

2.3. Sặc 

Không ít bà mẹ trẻ không có kinh nghiệm chăm con cần thiết nên hay xảy ra tình huống này. Đó là khi cho con ăn, thấy chúng la khóc rồi tiếp tục mớm cho nó ăn. Khi đó bạn hãy quan sát sắc mặt của bé, nếu thấy phần da tím đi và khóc nghẹn lên thì có thể con bạn đã bị sặc. Cách tạm thời đó là bạn đưa miệng ngay lại mũi trẻ và hút hết ra ngoài. Xong rồi để trẻ nằm trong tư thế thoải mái và lúc sau cho chúng uống một chút nước.

2.4. Dị ứng

Da trẻ em dễ nhạy cảm vì vậy, khi trẻ mắc dị ứng sẽ rất khó phân biệt xem trẻ bị dị ứng với phấn thơm, phấn rôm hay sữa tắm. Cách tốt nhất là khi trẻ mắc bệnh lên những nốt mẩn đỏ, bạn đừng chủ quan hãy đưa trẻ đến cơ sở y tế để bác sĩ chẩn đoán.

2.5. Ho

Trẻ em khi ho có rất nhiều nguyên nhân, có thể nó bị nhiễm lạnh, hoặc cũng có thể do hóc dị vật lạ như đã nói ở trên. Khi đó bạn nên cho chúng một chút mật ong như là liệu pháp bôi trơn cổ họng để trẻ bớt ho rồi mới đi đến bác sĩ.

Xem thêm:

3. Dạy cho trẻ biết yêu thương



Hãy dạy cho trẻ biết yêu thương và sẻ chia với những người khác. Muốn biết trẻ có yêu thương người khác hay không, bạn hãy cho nó chơi chung với những đứa trẻ khác, bạn hãy cho nó vài cái kẹo hoặc một cái bánh xem nó có cho những đứa bạn kia không là biết liền.

4. Động vật cũng như con người



Trẻ em biết yêu thương động vật là một điều tốt, bởi khi chúng có tình yêu thương với động vật, chúng sẽ dễ biết chăm sóc chúng hơn. Và chúng thấu hiểu những điều hay hơn.

5. Kể chuyện cho trẻ nghe

Ở đây bạn không là bác sĩ nữa, bạn đã thành những bà tiên cổ tích. Truyện cổ tích tôi khuyên bạn nên cho trẻ đọc truyện cổ Andecxen, Gym,..và khuyên bạn không nên cho nó nghe cổ tích Việt Nam ngay từ đầu. Bởi cổ tích Việt Nam ( không phải tất cả ) nhưng đôi khi những thủ đoạn của nhân vật cũng có thể khiến trẻ của bạn bắt chước sau này. Đêm nay, kể nó nghe luôn đi bạn: Cô bé bán diêm ý ...


Thực sự, những điều về trẻ em rất khó để đoán biết trước được, chúng là những ẩn số, rất khó đoán. Bạn biết đó, tuy bạn không phải là những bác sĩ giỏi có thể chữa bệnh, nhưng nếu phát hiện ra bệnh bạn đã và đang góp công rất lớn trong việc giữ gìn sức khỏe của bé và nâng niu tâm hồn bé sau này.

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Bí quyết giúp trẻ uống thuốc cực dễ dàng

Cho bé uống thuốc là một việc rất khó khăn và vất vả của các bà mẹ. Bóp mũi,đè ngửa bé,bắt bé uống thuốc … đều là những biện pháp khiến bé sợ hãi,công việc cho uống thuốc càng khó khăn hơn.

Dưới đây là một số mẹo giúp bé uống thuốc dễ dàng hơn từ (Phự nữ đẹp)


1. Chia nhỏ lượng thuốc 

Uống nhiều thuốc một lúc sẽ khiến bé có cảm giác sợ hãi,việc cho bé uống thuốc cũng sẽ càng khó khăn hơn rất nhiều.Vì thế bạn nên chia nhỏ lượng thuốc đó ra,cho bé uống từ từ để bé không còn còn cảm giác sợ hãi nữa.

2. Thử nhiều cách khác nhau 

Sự mới lạ luôn luôn kích thích trí tò mò của trẻ.Chẳng hạn như thay vì thìa ,bạn có thể cho bé uống thuốc bằng xi lanh hoặc một chiếc cốc nhỏ.Bất kỳ sự thay đổi hay tiếp cận mới nào cũng có thể giúp bạn dễ dàng đánh lạc hướng để bé chịu uống chúng.

3. Chiến thuật cải trang 


Đây là cách được rất nhiều bà mẹ áp dụng.Bạn có thể cho thuốc vào thực phẩm hoặc đồ uống như kem,hoa quả hay thêm ít đường vào thuốc để giấu đi vị thuốc. Tuy nhiên,bạn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ khi trộn thuốc với thức ăn và động viên bé ăn hết món đó để có được liều thuốc đầy đủ..

Xem thêm:
4. Vị trí đặt thuốc 

Các bé rất khó khăn trong việc nuốt viên thuốc nên các bà mẹ nên khéo léo trong việc đặt vị trí thuốc.Bạn nên đặt ở phần nướu sau và bên trong má,đây là chỗ thuốc sẽ trôi xuống cổ hỏng mà không tác động gì nhiều đến vị giác của bé

5. Dỗ dành bé 

Bạn có thể dỗ dành bé để bé uống hết thuốc bằng những món quá nhỏ như những viên kẹo,những món đồ chơi hay một chuyến đi công viên vào cuối tuần.Nó vừa phù hợp với tâm lý,nhu cầu của bé và cũng khiến bé nghe lời bạn hơn

6. Cho bé tự quyết


Bạn có thể trao cho con quyền quyết định chọn hương vị hoặc màu sắc khác nhau của thuốc để bé cảm thấy như mình có chút quyền kiểm soát tình hình. Việc uống thuốc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều

7. Xem phản ứng của bạn 

Bạn đừng tỏ ra cáu gắt hay căn thẳng khi cho bé uống thuốc,điều đó sẽ tạo áp lực cho bé. Thay vào đó khi bạn tươi cười thoải mãi ,chơi đùa với bé để bé cảm thấy việc uống thuốc rất vui vẻ,không có khó khăn nào



Một số lưu ý cho các bà mẹ khi cho bé uống thuốc:

- Không nên tự ý dùng thuốc,tăng,giảm liều lượng hoặc sử dụng toa thuốc cũ của bé khác cho bé mà phải có sự hướng dẫn của bác sĩ để tránh trường hợp ngộ độc,lờn thuốc…
- Không bóp mũi trẻ, đè đổ thuốc.
- Không cho trẻ uống thuốc khi trẻ đang khóc, cười hay đang co giật.
- Không nên cho trẻ uống thuốc lúc bụng đói